Đang tải... Vui lòng chờ...

Những điều cần lưu ý khi sử dụng nhân sâm

 

Từ ngàn xưa,  nhân sâm đã được phong danh là thần dược, đứng đầu trong các vị thuốc đông y: sâm, nhung, quế, phụ… có thể trị được bá bệnh. Sâm ở đây được hiểu là nhân sâm. Trên thị trường có rất nhiều dược liệu mang tên sâm cũng có thể có củ giống hình người như nhân sâm nhưng tính chất dược lý không giống hoặc chỉ giống một phần…

Tính chất dược lý của nhân sâm

 

Ngày nay, các công trình nghiên cứu khoa học cho thấy tính chất dược lý của sâm rất đa dạng như:

- Gia tăng sự hồi phục các chức năng của cơ thể, được xem là loại thuốc bổ toàn diện.

- Tác dụng chống lão hóa tế bào, thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp protein của tế bào mới. Do đó, người xưa cho rằng sâm là vị thuốc “cải lão hoàn đồng”.

- Kích thích cơ chế miễn dịch của cơ thể, giúp chống lại bệnh nhiễm trùng, là phương thuốc phòng bệnh.

Nhân sâm đứng đầu trong các vị thuốc bổ nhưng vẫn là thuốc, nên không phải muốn dùng thế nào cũng được và không phải ai cũng dùng được, bởi thể trạng, bệnh tình khác nhau. Việc dùng tùy tiện có thể biến bệnh nhẹ thành nặng, nặng thành nặng hơn.

 

Liều dùng nhân sâm

 

Người lớn, có thể dùng riêng, ngày 6 - 8g, dưới dạng thuốc hãm, thuốc sắc, hoặc phối hợp với các vị thuốc khác: nhân sâm 8g; bạch truật, bạch linh, cam thảo, mỗi vị 4-6g, ngày một thang, uống liền 2-3 tuần lễ. Cũng có thể sử dụng dưới dạng rượu sâm (40g sâm, thái lát mỏng ngâm trong 1 lít rượu trắng 30-35  độ trong 3 - 4 tuần là có thể dùng được. Tiếp tục ngâm lần 2 với  0,5 lít rượu trong 2-3 tuần lễ nữa). Ngày có thể dùng  2 - 3  lần, mỗi lần 30 -50ml. Uống trước các bữa ăn, hoặc vào các  buổi tối. Với trẻ em gầy còm chậm lớn, yếu mệt, biếng ăn, có thể dùng với lượng nhỏ hơn, 2 - 4 g/ngày, dưới dạng thuốc hãm.

 

 Nhân Sâm tươi (vuonsam.com.vn)

Nhân sâm tươi Hàn Quốc

 

Những chú ý khi sử dụng nhân sâm

 

Việc dùng nước nhân sâm thay cho nước uống, hay ăn nhân sâm như ăn kẹo là rất nguy hiểm, nhất là với người cao tuổi, bị xơ cứng động mạch… bởi trong nhân sâm có chứa chất chống phân giải chất béo, sẽ làm tăng lượng mỡ.

Sâm được coi như là một thứ thuốc giúp con người thích ứng với hoàn cảnh, giúp cơ thể con người thích ứng với những kích động, kích thích, với những biến động, với stress. Sâm điều hòa tuyến nang thượng thận, tuyến giáp trạng và tuyến não thùy. Sâm vì thế làm gia tăng biến dưỡng, làm điều hòa huyết áp và lượng đường trong máu. Vì thế, người ta hay đổ sâm vào miệng những người hấp hối để làm tăng áp huyết và lượng đường cho người bệnh hồi tỉnh.

Đông y cho rằng, do nhân sâm đại bổ khí nên những người có thể trạng âm hư hỏa vượng, âm hư nội nhiệt với các triệu chứng thì không nên dùng nó. Những người đang bị bệnh thực chứng, tức là bệnh cấp tính, thanh niên hay bị xuất tinh sớm, di tinh, phụ nữ đang mang thai, trẻ em dưới 14 tuổi đều không nên dùng nhân sâm.

Nhân sâm làm tăng cường hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp, tăng hưng phấn thần kinh, tăng sức lực, tăng khả năng lao động… Cho nên, chỉ sử dụng vào buổi sáng hoặc chiều, không sử dụng vào buổi tối, để cơ thể được nghỉ ngơi tốt hơn.

Các loại củ cải và hải sản đều tuyệt đối bị cấm sau khi uống hoặc ăn nhân sâm. Vì củ cải và hải sản là đại hạ khí, còn nhân sâm là đại bổ khí, hai thứ triệt nhau.

Nhìn chung có rất nhiều vị thuốc mang tên sâm nhưng lại thuộc nhiều họ thực vật khác nhau, chỉ có loại thuộc giống thần thảo panax mới có dược tính được coi là tốt như nhân sâm. Ngay cả cùng một loại nhân sâm nhưng tính chất cũng thay đổi tùy theo vùng địa lý, điều kiện trồng trọt và thời gian gặt hái. Sâm trồng tại xứ Cao Ly (Triều Tiên) được đánh giá là tốt nhất. Vì thế, nhiều sản phẩm có sâm được phép lưu hành trên thị trường đều ghi rõ loại sâm và hàm lượng trong thành phần công thức. Còn các loại sâm trôi nổi trên thị trường, ngoài cảm quan “có mùi sâm” thì thật là khó để biết đó là loại sâm nào, bao nhiêu tuổi và hàm lượng tinh chất còn lại…

Núm rễ của củ sâm (còn gọi là lô sâm). Để giữ được các hoạt chất khi chế biến và để tạo dáng cho nhân sâm (giống như cái đầu người),  người ta đã giữ nó lại. Lô sâm, không có tác dụng bổ mà còn gây ra cảm giác buồn nôn. Do đó cần cắt bỏ đi, trước khi sử dụng.

Khi nói về nhân sâm đã có một lời khuyên  mang tính  kinh điển: "Phúc thống phục nhân sâm tắc tử". Vốn là, khi xưa đã có một thầy thuốc, sau khi cho một bệnh nhân uống nhân sâm, người bệnh  này đã bị tử vong. Vấn đề là ở chỗ người thầy thuốc này lại cứ cho rằng, ông ta không hề có một sai sót gì cả! Vì trước đó, ông đã từng đọc rất kỹ sách đã chỉ rõ: "Phúc thống phục nhân sâm...", tức là "đau bụng uống nhân sâm...". Đáng tiếc là, người thầy thuốc này đã chưa đọc hết hai chữ nữa ở trang sau: "tắc tử", nghĩa là " sẽ chết".

Ngày nay, trên thực tế, nhiều người bị "đau bụng" do viêm gan, viêm dạ dày, viêm ruột co thắt, táo bón... vẫn dùng nhân sâm mà vẫn khỏe mạnh. Rõ ràng ở đây có sự hiểu khác nhau về khái niệm "phúc thống". Qua kinh nghiệm thực tế, khái niệm "phúc thống" trong trường hợp chết người này là chỉ các triệu chứng đau bụng thuộc "thể hàn", đau bụng "tiết tả", tức đau bụng  ỉa chảy,  đầy bụng, trướng bụng..., nếu dùng nhân sâm sẽ nguy hiểm đến tính mạng, ngoài ra, những người cao huyết áp cũng không nên dùng nhân sâm; những người hay mất ngủ tránh dùng sâm vào buổi chiều và buổi tối.

In văn bản

Thông tin sức khỏe
Facebook

Lượt truy cập